Nông nghiệp Đồng Tháp đứng tốp đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long

Theo kết quả thống kê, năm 2016, ước giá trị tăng thêm nông – lâm – thuỷ sản đạt hơn 15.870 tỷ đồng, tăng trưởng 3,3% so với năm 2015; đóng góp 1,25% vào tổng mức tăng trưởng kinh tế 6,38% của tỉnh và nằm trong tốp đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long.

Để làm rõ hơn về thành quả này, Cổng Thông tin điện tử Đồng Tháp có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Công – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

PV: Thưa ông, tăng trưởng nông nghiệp của Đồng Tháp nằm trong tốp đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long trong năm 2016 là một kết quả rất đáng phấn khởi. Theo ông, yếu tố nào mang tính quyết định cho sự thành công trên?

Nguyễn Văn Công – Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn

Ông Nguyễn Văn Công: Về khách quan, tăng trưởng 3,3% so với năm 2015 là không cao, nhưng là nằm trong tốp đầu khu vực đồng bằng sông Cửu Long và là một trong những tỉnh có tăng trưởng cao nhất nước là do năm nay khí hậu bất lợi như: miền Bắc rét đậm rét hại kéo dài, miền Trung và Nam bị khô hạn. Bên cạnh đó, đồng bằng sông Cửu Long nhiễm mặn kỷ lục, trong khi đó Đồng Tháp ít bị hạn và không bị mặn.

Về chủ quan, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ động từ đầu năm, bám sát kế hoạch để thực hiện, chủ động ứng phó từ trước, nhất là trong thuỷ lợi, áp dụng khoa hoc kỹ thuật,… Từng ngành hàng chủ lực có thế mạnh đều được quan tâm đầu tư, tháo gỡ kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh.

Năm 2016 có sự đột phá trong các ngành hàng có dư địa phát triển như: thuỷ sản, cây ăn trái, chăn nuôi gia súc, gia cầm, hoa kiểng,… Cùng với sự hỗ trợ của các Bộ, ngành Trung ương và sự đồng thuận của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và bà con nông dân đã tạo thành sức mạnh tổng hợp, thay đổi diện mạo nông nghiệp tỉnh nhà.

PV: Năm 2016 xuất hiện nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp đột phá, đáng chú ý là người sản xuất đã thay đổi tư duy, cách làm, chú trọng hơn đến ứng dụng khoa học công nghệ, tăng cường hợp tác, liên kết, tiêu thụ trong sản xuất. Xin ông chia sẻ cụ thể hơn về vấn đề này?

Ông Nguyễn Văn Công: Mô hình là bước đi phù hợp, vừa làm vừa rút kinh nghiệm, kiểm nghiệm tính đúng đắn, thay đổi dần tư duy của người quản lý, bà con nông dân. Có thể nói, năm 2016 là năm của mô hình, như: mô hình xây dựng các Hợp tác xã đầu tàu, mô hình bón phân trước khi gieo, phân chậm tan, cấy bằng máy. Hay như rãi vụ xoài, sản xuất theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp (gồm: lúa, chanh, nhãn, ổi); sản xuất lúa sạch theo qui mô hộ, nuôi vịt an toàn sinh học, nuôi rọ, không chạy đồng.

Bên cạnh đó, sự ra đời hàng loạt của các hội quán khuyến nông; mô hình bán trước sản xuất sau (cây xoài nhà tôi). Trong canh tác, áp dụng mạnh mẽ cơ giới hoá, khoa học kỹ thuật, xem trọng chất lượng, lợi nhuận của nông sản hơn là giá bán, năng suất, sản lượng.

Để có được nhiều mô hình, ngành nông nghiệp luôn biết lắng nghe, trân trọng nâng niu mọi ý tưởng, gắn lý thuyết với kinh nghiệm, thực tiễn của bà con nông dân, nhất là những ý tưởng khởi nghiệp của các bạn thanh niên nông thôn.

PV: Mặc dù vậy, theo đánh giá, những kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng. Theo ông, lực cản nào đang kiềm hãm, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành nông nghiệp? Nhận diện và tháo gỡ nó ra sao, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Công: Việt Nam là 1 trong khoảng 20 nước có điều kiện để sản xuất nông nghiệp. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng trù phú nhất nước, năm 2016, Đồng Tháp ít bị ảnh hưởng của biến đổi khí hậu so với các tỉnh trong vùng. Với những lợi thế đó thì rõ ràng ta chưa khai thác hết tiềm năng hiện có.

Bên cạnh những thuận lợi, cũng còn nhiều điểm nghẽn cần tháo gỡ như: đất manh mún (bình quân 0,4ha/hộ nông dân có đất), chính sách cho nông nghiệp và nông thôn vừa ít, không tạo ra động lực vừa khó đi vào cuộc sống.

Để thay đổi, tháo gỡ những điểm nghẽn, bên cạnh việc sửa đổi Luật, qui định từ Trung ương để tích tụ được đất đai, nhà đầu tư thuê được diện tích lớn, nông dân được góp vốn bằng đất, thì địa phương cần củng cố các hợp tác xã, thay đổi tư duy sự lãnh đạo đối với ngành nông nghiệp, kêu gọi thu hút doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn nhất là chế biến nông sản.

Ngành nông nghiệp phải sắp xếp lại bộ máy, thay đổi tận gốc phương thức lãnh đạo điều hành, bà con nông dân phải xem chất lượng, giá thành, năng suất lao động là việc sống còn trong hội nhập.

PV: Với việc Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thống nhất nhân rộng mô hình Tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh Đồng Tháp, ông có xem đây là lợi thế để nông nghiệp Đồng Tháp bứt phá vươn lên mạnh mẽ trong năm 2017 và những năm tiếp theo? Giải pháp để phát huy lợi thế này là gì, thưa ông?

Ông Nguyễn Văn Công: Việc được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tuyên dương xem Đồng Tháp là điểm sáng trong tái cơ cấu ngành nông nghiệp để các nơi nghiên cứu học tập là sự khích lệ cổ vũ cho nông nghiệp tỉnh nhà, khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Trung ương, lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tỉnh đối với ngành nông nghiệp.

Từ đó giúp chúng ta vững tin hơn, nhưng đây cũng là trách nhiệm lớn lao, sức ép lớn đối với lãnh đạo tỉnh, đặc biệt đối với ngành, buộc chúng ta phải luôn hoàn thiện, phấn đấu và vươn lên. Muốn làm được điều đó chúng ta phải tranh thủ sự lãnh đạo hỗ trợ từ Trung ương, hệ thống chính trị cả tỉnh, bám sát phương châm Đề án, lắng nghe doanh nghiệp, nông dân để điều chỉnh kịp thời. Nhân rộng các mô hình tốt, hiệu quả, chú trọng các nông sản tiềm năng, đẩy mạnh chế biến, xem chất lượng giá thành là yếu tố quyết định cho lợi nhuận, là nền tảng để phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới thành công.

Nguồn: dongthap.gov.vn

Sử dụng DOLA 01F phun cho dây Dola, Lan hạt dưa

1. Giới thiệu:

– Tên cây: Dây Dola, Cây Lan Đô La, Lan Dollar, Lan Hạt dưa.
– Tên khoa học là Dischidia sp
– Họ thực vật: Asclepiadaceae (họ Thiên lý). Phân bố rộng khắp, ở nước ta tìm thấy chủ yếu trong rừng ẩm nhiệt đới.

2. Đặc điểm của cây Dola:

Là một cây thuộc thân leo, từng nhánh mọc dài quấn quýt vào nhau. Những chiếc lá giống như hình đồng tiền $ Dola nên người ta gọi nó bằng cái tên thân mật đó. Có nhiều loài đã được xác định, trong bài viết nầy chúng tôi đề cập 2 loại: Dola lá xanh, và dây Hạt dưa.

Mặc dù dây Dola không có hoa nhưng nó lại có lá màu xanh mát, nếu là dây Hạt dưa thì lá nhỏ hơn và có 2 màu xanh trắng, Hạt dưa cũng là sự cường thịnh chỉ xếp sau hạt Vừng (mè).

Trong bộn bề lo toan cuộc sống hiện tại, hoặc nơi phố thị đông người chung quang là những bức tường, nếu được trang trí vài chậu treo Dola thì bạn sẽ thực sự thích màu xanh của thiên nhiên ấy. Đồng thời, với với kích thước nhỏ gọn, dây Dola trồng chậu được đặt ngay trên bàn làm việc của Văn phòng, trên bàn họp của Công ty sẽ mang lại vẻ xanh tươi cho nơi làm việc của bạn.

Ngoài ra, cũng có thể trồng dây Dola ngoài sân vườn tạo thành những giỏ cây thật xinh xắn, tươi mát. Dây Dola cũng thường được trồng chậu làm cây nội thất trang trí nơi phòng khách nhà bếp, làm chậu treo ở ban công… 

–         Về phong thủy:

Dây Dola nhánh dài quấn quýt vào nhau tượng trưng cho ý chí đoàn kết, thịnh vượng và phú quý. Nơi Văn phòng với những dây Dola sẽ làm cho Văn phòng ấy thêm đoàn kết, nỗ lực cùng chung sức chiến đấu. Gia chủ có chậu dây Dola nhỏ xinh sẽ giúp cho gia chủ ấy gặp nhiều may mắn làm ăn phát tài

3. Cách trồng:

– Nhân giống chủ yếu từ tách bụi, giâm dây cành. Ở Sa Đéc có trồng và nhân giống bán quanh năm.

– Chất trồng là mụn dừa, hoặc rơm mục. Vì Dola là thân leo nên thích hợp với chậu trồng dạng treo.

– Tưới nước vừa đủ ẩm, cây chịu khô hạn nhưng rất sợ úng. Trồng trong điều kiện có máy điều hòa tránh tưới nước lên lá.

– Cây chịu bóng bán phần, cho nên không để nắng chiếu trực tiếp.

– Bón phân cho Dola – Hạt dưa:

Sử dụng phân bón lá Dola 01F liều lượng 20 – 25 ml / 10 lít nước, phun đều lên lá. Mùa nắng phun 7 – 10 ngày / lần, mùa mưa phun 30 ngày / lần. Cây sẽ phát triển xanh tốt và sinh trưởng mạnh.

 4. Giới thiệu về phân bón lá Dola 01F:

–  Thành phần: Bao gồm các yếu tố  N 100 g/l – P 50 g/l – K 50 g/l, các nguyên tố: Mn, Mg, Mo, S, Zn, B, Cu, Fe… 10 – 2.000 mg/l, phụ gia Acid amine.

– Dola 01F là chế phẩm được sản xuất bằng nguyên liệu công nghệ cao dựa trên những thành tựu tiến bộ kỹ thuật trong lĩnh vực phân bón.

– Dola 01F có tác dụng kích thích mạnh hoạt động của men tăng cường quá trình chuyển hóa chất dinh dưỡng, tăng khả năng chịu phèn, tăng sức đề kháng sâu bệnh, tạo màu lá xanh bền, tăng độ phì của trái nhanh, tăng năng suất và chất lượng nông sản.

– Sản phẩm sử dụng cho lúa bắp, rau màu, cây ăn trái và hoa kiểng.

– Sản phẩm Dola 01F được Công ty CP Dasco sản xuất từ nguyên liệu nhập khẩu, và phân phối ở các Đại lý VTNN trong tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh Đồng bằng Sông Cữu Long.

Tóm lại sử dụng phân bón Dola 01F cho dây Dola – Hạt dưa sẽ mang lại đồng $ Dollar tinh thần đầy giá trị trong cuộc sống./.

Đỗ Hùng Cường (phòng SX&NC)

Mưa liên tục, các tỉnh cảnh báo sâu bệnh tăng cao

Trời mưa liên tiếp khiến cho sản xuất nông nghiệp khó khăn. Ngoài những diện tích thu hoạch ngay mưa ảnh hưởng đến năng suất, số diện tích xuống giống cũng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Trước diễn biến phức tạp của thời tiết, các tỉnh liên tiếp khuyến cáo người dân thường xuyên thăm đồng, chăm sóc các trà lúa.

Dịch bệnh xuất hiện nhiều

Ghi nhận của Sở NNPTNT tỉnh Đồng Tháp, rầy nâu: có đợt rầy cám nở rộ với mật số phổ biến ở mức nhẹ – trung bình, cục bộ sẽ có diện tích nhiễm với mật số cao đến rất cao trên lúa giai đoạn đẻ nhánh – đòng trỗ, do trước đó bị nhiễm rầy di trú hoặc rầy tích lũy mật số từ đầu vụ. Diện tích nhiễm 961 ha trên lúa giai đoạn làm đòng – trỗ chín, trong đó nhiễm trung bình 60 ha với mật số rầy 1.500 – 3.000 con/m², còn lại nhiễm nhẹ, phổ biến tuổi 3 – 5 và trưởng thành.

Sâu cuốn lá diện tích nhiễm 747,6 ha trên lúa giai đoạn đẻ nhánh – đòng trỗ, trong đó nhiễm nặng 0,6 ha với mật số sâu 30 – 40 con/m², còn lại nhiễm nhẹ.

Bệnh đạo ôn lá: Diện tích nhiễm 4.663 ha, trong đó nhiễm nặng 3 ha với tỷ lệ bệnh >20 – 50%, nhiễm trung bình 102 ha, còn lại nhiễm nhẹ.

Bệnh cháy bìa lá diện tích nhiễm 943 ha, trong đó nhiễm nặng 15 ha với tỷ lệ bệnh 40 – 50%, nhiễm trung bình 65 ha, còn lại nhiễm nhẹ.

Bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá diện tích nhiễm 2.057 ha, trong đó nhiễm nặng 287 ha (Tân Hồng và Tháp Mười) với tỷ lệ bệnh >30 – 60%, nhiễm trung bình 728 ha, còn lại nhiễm nhẹ.

Các tỉnh An Giang, Kiên Giang, Long An cũng liên tiếp phát đi cảnh báo các loại bệnh rầy nâu, đạo ôn, đạo ôn cổ bông, vàng lun, lún xoắn lá.

Cần chăm sóc tốt các trà lúa

Khuyến cáo của Sở NNPTNT Đồng Tháp, đối với những diện tích lúa Hè Thu đã thu hoạch cần vệ sinh đồng ruộng, cày ải phơi đất và đảm bảo thời gian cách ly giữa 02 vụ ít nhất 20 ngày nhằm cắt đứt nguồn sâu bệnh lây lan sang lúa Thu Đông.

Những vùng chưa xuống giống lúa Thu Đông cần rà soát lại đê bao, cống, đập; do rầy di trú mật số thấp nên tập trung xuống giống dứt điểm trong những ô bao bảo đảm an toàn trong mùa lũ.

Áp dụng tốt các giải pháp kỹ thuật 3 giảm – 3 tăng, 1 phải – 5 giảm, quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), quản lý nước hợp lý để lúa sinh trưởng và phát triển tốt, tăng sức chống chịu với sâu bệnh hại, giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận. Hạn chế phun thuốc trừ sâu cho lúa dưới 40NSS để bảo tồn thiên địch.

Kiểm tra kỹ ruộng lúa, khi rầy cám nở rộ ruổi 1-3 với mật số > 3 con/tép cần xử lý kịp thời bằng thuốc có tác động chống lột xác, đặc biệt những ruộng nhiễm bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá cần chú ý quản lý tốt rầy trên ruộng nhằm hạn chế rầy phát tán mầm bệnh sang các khu vực lúa lân cận đang ở giai đoạn mạ – đẻ nhánh, tuân thủ tốt nguyên tắc 4 đúng.

Đối với bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá: kiểm tra kỹ ruộng lúa, phát hiện sớm lúa bị nhiễm bệnh vàng lùn – lùn xoắn lá giai đoạn cuối đẻ nhánh để tác động kịp thời các biện pháp chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng, quản lý tốt mật số rầy trên ruộng nhằm hạn chế lây lan và phát tán mầm bệnh.

Cần kiểm tra kỹ đồng ruộng, phát hiện sớm bệnh đạo ôn lá, cháy bìa lá,… để áp dụng các biện pháp canh tác và xử lý kịp thời bằng các loại thuốc đặc trị. Phun ngừa bệnh đạo ôn cổ bông, lem lép hạt khi lúa trỗ lẹt xẹt và trỗ đều. Tiếp tục theo dõi, chăm sóc và quản lý tốt những diện tích đã nhiễm bệnh.

Không phun thuốc trừ sâu bệnh, thuốc kích thích sinh trưởng cho lúa, ít nhất 20 ngày trước thu hoạch nhằm bảo đảm an toàn thực phẩm; thu gom bao bì thuốc bảo vệ thực vật sau khi sử dụng để hạn chế ô nhiễm môi trường.

Tích cực thăm đồng thường xuyên, phát hiện sớm các đối tượng sâu bệnh để có biện pháp xử lý kịp thời hiệu quả. Thông báo kịp thời cho cán bộ địa phương và cán bộ kỹ thuật khi thấy tình hình sâu bệnh có dấu hiệu diễn biến phức tạp. 

Hoàng Huy (Báo Lao Động)